Ông bà Dursley, nhà số 4
đường Privet Drive, tự hào mà nói họ hoàn toàn bình thường, cám ơn bà con quan
tâm. Bà con đừng trông mong họ tin vào những chuyện kì lạ hay bí ẩn, đơn giản
là vì họ chẳng hơi đâu mà bận tâm đến mấy trò vớ vẩn đó.
Ông Dursley là giám đốc một công ty gọi là Grunnings,
chuyên sản xuất máy khoan. Ông là một người cao lớn lực lưỡng, cổ gần như không
có, nhưng lại có một bộ ria mép vĩ đại. Bà Dursley thì ốm nhom, tóc vàng, với một
cái cổ dài gấp đôi bình thường, rất tiện cho bà nhóng qua hàng rào để dòm ngó
nhà hàng xóm. Hai ông bà Dursley có một cậu quí tử tên là Dudley, mà theo ý họ
thì không thể có đứa bé nào trên đời này ngoan hơn được nữa.
Gia đình Dursley có mọi thứ mà họ muốn, nhưng họ cũng có
một bí mật, và nổi sợ hãi lớn nhất của họ là cái bí mật đó bị ai đó bật mí. Họ
sợ mình sẽ khó mà chịu đựng nổi nếu câu chuyện về gia đình Potter bị người ta
khám phá. Bà Potter là em gái của bà Dursley, nhưng nhiều năm rồi họ chẳng hề gặp
gỡ nhau. Bà Dursley lại còn giả đò như mình không có chị em nào hết, bởi vì cô
em cùng ông chồng-vô-tích-sự của cô ta chẳng thể nào có được phong cách của nhà
Dursley.
Ông bà Dursley vẫn rùng mình ớn lạnh mỗi khi nghĩ đến
chuyện hàng xóm sẽ nói gì nếu thấy gia đình Potter xuất hiện ở cửa nhà mình. Họ
biết gia đình Potter có một đứa con trai nhỏ, nhưng họ cũng chưa từng nhìn thấy
nó. Đứa bé đó cũng là một lý do khiến họ tránh xa gia đình Potter: Họ không muốn
cậu quí tử Dudley chung chạ với một thằng con nít nhà Potter.
Vào một buổi sang thứ ba xám xịt âm u, ông bà Dursley thức
dậy, chẳng hề cảm thấy chút gì rằng bầu trời đây mây kia đang báo hiệu những điều
lạ lùng vô cùng bí ẩn sắp xảy ra trên cả nước Anh. Ông Dursley ậm ự khi chọn cái
cà-vạt chán nhất thế giới để đeo vào cổ đi làm. Bà Dursley thì lách chách nói
trong lúc vật lộn với cậu quí tử Dudley đang gào khóc vùng vẫy, không chịu ngồi
ăn sáng tử tế. Không một ai để ý một con cú to và đen thui bay xẹt qua của sổ.
Tám giờ rưỡi, ông Dursley xách cặp, hửi cổ bà Dursley một
cái và cố hôn cậu quí tử trước khi đi làm. Nhưng cậu Dudley đang chơi trò đánh
trống thổi kèn, phun phèo phèo thức ăn và vung vãi mọi thứ tung, kể cả cái hôn
của cha. Ông Dursley vừa cười khoái chí: “Thằng chó con!”, vừa đi ra khỏi nhà.
Ông lên xe, lái ra khỏi ngôi nhà số 4 của mình.
Chính ở ngay góc đường, ông nhận thấy dấu hiệu đầu tiên của
chuyện lạ: Một con mèo xem bản đồ. Thoạt tiên, ông Dursley không nhận ra đó là
chuyện kỳ quái. Thế rồi ông giật mình quay lại nhìn lẫn nữa. Có một con mèo
khoang đứng ở góc đường Privet Drive, nhưng bây giờ lại chẳng có tấm bản đồ nào
cả! Chẳng lẽ chuyện đó là do ông tưởng tượng ra ư? Hay ánh sáng đã làm ông lóa
mắt? ông Dursley chớp chớp mắt rồi chăm chú nhìn con mèo. Nó cũng nhìn lại ông.
Ông lái xe vòng qua góc đường, đi tiếp, và tiếp tục nhìn
con mèo qua kính chiếu hậu. Nó lúc ấy đang đọc tên đường Privet Drive – À
không, ngó bản tên đường chứ, mèo đâu
có thể đọc bảng tên đường hay xem bản đồ! Ông Dursley lắc lắc đầu, đuổi con mèo
ra khỏi óc. Khi lái xe vào thành phố, ông không muốn nghĩ đến cái gì khác hơn
là những đơn đặt hàng máy khoan mà ông mong có được nhiều thật nhiều vào ngày
hôm đó.
Nhưng sắp vào tới thành phố, chợt có một việc khiến ông
không còn tâm trí nào nghĩ đến những chiếc máy khoan nữa: Lúc ngồi đợi trong
xe, giữa dòng xe cộ kẹt cứng, ông không thể không nhận thấy hình như xung quanh
có rất nhiều người ăn mặc lạ lùng đang lảng vảng. Tất cả bọn họ đều mặc áo trùm
kín. Ông Dursley vốn đã không chịu nổi bọn người ăn mặc dị hợm – những thứ lôi
thôi mà đám trẻ vẫn mặc! – nên ông cho lần này chắc lại chỉ là một thời trang
ngu ngốc nào đó xuất hiện.
Ông sốt ruột nhịp ngón tay trên tay lái xe hơi và ánh mắt
ông đụng nhầm một cặp mắt quái đang chụm đầu đứng gần đó. Họ đang thì thầm với
nhau coi bộ rất kích động. Ông Dursley giận sôi lên khi nhận thấy cặp này cũng
chẳng còn trẻ gì: Coi, gã đàn ông trông còn già hơn cả ông, vậy mà lại khoác áo
trùm màu xanh ngọc bích! Chẳng ra thể thống gì cả! Đầu óc gì thế chứ! Nhưng ông
Dursley chợt giật mình – hình như những người này đang tụ tập vì chuyện gì đó… Ừ,
hình như vậy!...
Dòng xe cộ thông, và chỉ vài phút sau ông Dursley đã lái
xe vào bãi đậu của hang Grunnings, đầu óc ông giờ đã quay trở lại với mấy cái
máy khoan.
Trong văn phòng ở lầu chín, ông Dursley thường vẫn hay ngồi
quay lưng lại cửa sổ. Giả sử không ngồi kiểu đó, thì rất có thể sáng hôm ấy ông
sẽ khó tập trung được vô mấy cái máy khoan. Bởi ngồi như vậy, nên ông đã không
thấy, bên ngoài cửa sổ, một đàn cú bay lượn xao xác giữa ban ngày. Mọi người dưới
phố đều trông thấy, nhưng ông Dursley thì không. Người ta chỉ trỏ kinh ngạc, thậm
chí há hốc mồm ra khi ngước nhìn đàn cú bay vụt qua trên đầu, nhiều người trong
số đám đông ấy thậm chí chưa từng thấy một con cú vào nửa đêm, đừng nói chi giữa
ban ngày như thế này.
Ai cũng thấy, chỉ riêng ông Dursley là không thấy. Ông đã
trải qua một buổi sáng hoàn toàn bình thường, không có cú. Sáng đó, ông quát
tháo năm người khác nhau. Ông gọi nhiều cú điện thoại quan trọng và la hét thêm
một hồi. Tâm trạng ông sảng khoái cho đến bữa ăn trưa, và tự nhủ mình phải duỗi
chân cẳng một chút, băng qua đường, mua cho mình một cái bình ở tiệm bánh mì.
Ông hầu như đã quên bén những người khoác áo trùm kín cho
tới khi đi ngang qua một nhóm người đừng gần tiệm bánh. Cả bọn đều mặc áo trùm.
Ông nhìn họ giận dữ. Ông không biết tại sao, nhưng họ làm ông khó chịu quá. Bọn
này thì thào với nhau có vẻ rất kích động, mà ông thì không nghe được tí tẹo
nào. Chỉ đến lúc trên đường về từ tiệm bánh, tay nắm chặt cái bánh mì, đi ngang
qua nhóm người khoác áo trùm, ông Dursley mới nghe lõm bõm được những gì họ
nói:
“Gia đình Potter, đúng đấy. Tôi nghe đúng như thế…”
“… Ừ, con trai họ, Harry…”
Ông Dursley đứng sững lại, chết lặng. Ông ngợp trong nỗi
sợ hãi. Ông ngoái nhìn đám người đang thì thào như muốn nói gì với họ, nhưng rồi
lại thôi.
Ông băng nhanh qua đường, vội vã về văn phòng, nạt viên
thư ký là đừng có quấy rầy ông, rồi cầm điện thoại lên, sắp quay xong số gọi về
nhà thì lại đổi ý. Ông đặt ống nghe xuống, tay rứt rứt hàng ria, suy nghĩ… Không,
ông hơi hồ đồ. Potter đâu phải là một cái họ hiếm hoi gì. Ông dám chắc là có
hàng đống người mang họ Potter và đặt tên con mình là Harry. Nghĩ đi nghĩ lại
thật kỹ, ông thấy cũng không chắc thằng cháu của ông tên là Harry. Ông chưa từng
gặp nó. Biết đâu nó tên Harvey hay Harold. Chẳng việc gì ông phải làm phiền đến
bà Dursley; bả luôn nổi giận và buồn bực khi nghe nhắc đến cô em gái của mình.
Ông cũng chẳng trách bà, ông cũng sẽ thế thôi nếu ông có một cô em như thế…
Nhưng mà, em của bà hay em của ông thì đằng nào cũng vậy. Nhưng…, nhưng cái bọn
khoác áo trùm!...
Buổi trưa đó, ông bỗng thấy khó mà tập trung vô mấy cái
máy khoan, và khi rời sở làm vào lúc năm giờ chiều thì ông trở nên lo âu căng
thẳng đến nỗi đâm sầm vào một người ở ngoài cửa.
“Xin lỗi.”
Ông càu nhàu với người đàn ông nhỏ thó bị ông đâm vào làm
cho suýt ngả bổ ra sau. Nhưng chỉ vài giây sau, ông Dursley chợt nhận ra là gã
đàn ông đó cũng khoác áo trùm màu tím. Gã không tỏ vẻ cáu giận về chuyện gã
suýt bị lăng quay ra đất. ngược lại, mặc gã giãn ra một nụ cười toe toét, và gã
nói với một giọng hồ hởi khiến mọi người đi ngang phải ngoái nhìn.
“Đừng lo, thưa ngài, hôm nay không có gì có thể làm tôi nổi
cáu được đâu. Vui lên đi. Bởi vì Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy
cuối cùng đã biến rồi! Ngay cả dân Muggle như chính ngài cũng nên ăn mừng cái
ngày vui vẻ, rất vui vẻ này đi.”
Và gã đàn ông ôm ngang người ông Dursley một cách thân
tình rồi bỏ đi.
Ông Dursley đứng như trời trồng tại chỗ. Ông bị một người
hoàn toàn xa lạ ôm thân tình một cái! Ông lại bị gọi là dân Muggle, không biết
là cái quỷ gì? Ông ngạc nhiên quá. Vội vã ra xe, ông lái về nhà, hy vọng là những
gì xảy ra chẳng qua do ông tưởng tượng ra mà thôi. Nhưng mà trước nay, có khi
nào ông công nhận là có trí tưởng tượng ở trên đời đâu!
Khi cho xe vào ngõ nhà số 4, cái trước tiên ông nhìn thấy
– và cũng chẳng làm cho ông dễ thở hơn chút nào – là con mèo khoang to tướng mà
ông đã thấy hồi sáng. Con mèo đang ngồi chong ngóc trên bờ tường khu vườn nhà
ông. Ông chắc đúng là con mèo hồi sáng, bởi quanh mắt nó cũng có cái viền hình
vuông. Ông Dursley suỵt lớn:
“Xù!”
Con mèo chẳng thèm nhúc nhích. Nó còn nhìn lại ông một
cách lạnh lùng. Ông Dursley thắc mắc. Không biết có phải kiểu cư xử thông thường
của mèo là vậy? Cố gắng lấy lại vẻ tự chủ, ông đỉnh đạc bước vào nhà. Ông vẫn
còn quyết tâm là sẽ không nói gì với vợ về chuyện Potter.
Bà Dursley cũng trải qua một ngày bình thường tốt đẹp.
Trong bữa ăn tối, bà kể cho chồng nghe chuyện rắc rối của nhà hàng xóm và con
gái của họ, cùng chuyện hôm nay Dudley học nói được thêm hai từ mới (“Hổng
thèm”). Ông Dursley cố gắng cư xử như bình thường. Khi bé Dudley được đặt lên
giường ngủ thì ông vào phòng khách để xem bản tin buổi tối.
“Và cuối cùng, thưa
quí vị khán giả, những người quan sát cầm điểu khắp nơi báo cáo là chim cú trên
cả nước đã hành động hết sức bất thường suốt ngày hôm nay. Mặc dù cú thường đi
săn vào ban đêm và ít khi xuất hiện vào ban ngày, nhưng cả ngày nay, từ sáng sớm,
đã có hàng trăm con cú bay tứ tán khắp mọi hướng. Các chuyên viên không thể giải
thích nổi tại sao cú lại thay đổi thói quen thức ngủ như vậy.”
Phát ngôn viên nói tới đây tự thưởng cho mình một nụ cười
rồi nói tiếp:
“Cực kì bí hiểm.
Và bây giờ là phần dự báo thời tiết của Jim McGuffin. Liệu đêm nay còn trận mưa
cú nào nữa không Jim?”
Người dự báo thời tiết đáp:
“À, tôi không
rành vụ đó lắm, nhưng ngày hôm nay không chỉ có cú hành động quái chiêu, mà thời
tiết cũng tỏ ra bất bình thường. Nhiều quan sát viên từ các vùng khác nhau đã gọi
điện thoại phàn nàn với tôi là thay vì một trận mưa như tôi đã dự báo ngày hôm
qua, thì họ lại nhận được một trận sao băng. Không chừng người ta ăn mừng lễ đốt
pháo bông quá sớm, nhưng thưa bà con, tuần sau mới tới ngày đốt pháo bông mà!
Dù vậy, tôi xin cam đoan là thời tiết tối nay sẽ rất ẩm ướt.”
Ông Dursley ngồi như đóng băng trên ghế bành. Sao băng
trên khắp bầu trời Anh-cát-lợi à? Cú bay vào ban ngày ư? Những con người khoác
áo trùm bí ẩn khắp nơi nữa chứ. Và… và những câu chuyện thì thào về gia đình
Potter…
Bà Dursley bưng hai tách trà vào phòng. Không ổn rồi. Ông
phải nói gì với bà thôi. Ông tằng hắng lấy giọng:
“Ờ… em à… lâu nay em không nghe nói gì về em gái của em
phải không?”
“Không.”
Đúng như ông “mong đợi”, bà Dursley giật mình và đổi quạu.
Chẳng phải là lâu nay cả hai đã ngầm coi như bà chẳng hề có chị em gì hết sao?
Giọng bà sắc lẻm:
“Mà sao?”
Ông Dursley lầu bầu:
“À, chỉ là ba mớ tin tức… cười. Nào là cú… sao băng… lại
có cả đống bọn khoác áo trùm nhộn nhạo dưới phố hôm nay…”
“Thì sao?” Bà Dursley ngắt ngang.
Ông Dursley vội phân bua:
“Ờ… anh chỉ nghĩ… có thể… có chuyện gì đó dính dáng tới
dì nó… em biết đó… dì nó…”
Bà Dursley nhấp môi son vào tách trà. Ông Dursley băn
khoăn không biết liệu mình có dám nói với vợ là đã nghe thiên hạ bàn tán về cái
tên “Potter” không. Cuối cùng ông không dám. Thay vào đó, ông cố làm ra vẻ hết
sức bình thường:
“Thằng con trai của họ… chắc là nó bằng tuổi bé Dudley
nhà mình phải không em?”
Bà Dursley nhắm nhẳn:
“Có lẽ.”
“Nó tên gì? Howard phải không?”
“Harry. Một cái tên tầm thường xấu xí.”
“Ờ, xấu thật. Anh hoàn toàn đồng ý với em.”
Ông không nói thêm lời nào nữa về đề tài này khi cả hai
lên lầu vào phòng ngủ. Trong khi bà Dursley và buồng tắm, ông Dursley đứng bên
cửa sổ nhìn ra vườn. Con mèo vẫn còn đó. Nó đang chăm chú ngóng ra đường Privet
Drive như thể đang chờ đợi cái gì vậy.
Hay là ông chỉ tưởng tượng ra mọi thứ? Tất cả những chuyện
vớ vẩn này thì có liên quan gì đến chuyện gia đình Potter nào? Nếu có… nếu mà
có dính dáng với cặp phù… Ôi, nghĩ tới đó ông đã cảm thấy không chịu nổi.
Ông bà Dursley lên giường ngủ. Bà Dursley ngủ ngay tức
thì, còn ông Dursley thì cứ nằm trăn trở mãi. Cuối cùng một ý nghĩ dễ chịu đã
giúp ông ngủ thiếp đi, ấy là nếu mà gia đình Potter có dính dáng đến tất cả những
chuyện nhảm nhí ấy thì họ cũng không có lý do gì để dây dưa đến gia đình ông.
Gia đình Potter biết rất rõ bà Dursley nghĩ nghĩ như thế nào về họ và bọn người
như họ. Ông Dursley thấy không có lý do gì để mình và vợ mình có thể bị khổ sở
về những gì đang diễn ra – Ông ngáp và trở mình – Chuyện đó không thể nào ảnh
hưởng đến họ.
Nhưng ông đã lầm.
Ông Dursley cuối cùng cũng có thể tóm được giấc ngủ, dù một
cách khó khăn. Nhưng con mèo ngồi trên bờ tường bên ngoài thì không tỏ vẻ buồn
ngủ gì cả. Nó cứ ngồi bất động, mắt đăm đăm không chớp hướng về góc đường
Privet Drive. Nó không động đậy ngay cả khi có tiếng cửa xe đóng sầm bên kia đường.
Không nhúc nhích cả khi có hai con cú vút qua phía trên đầu. Và chính xác là đến
nửa đêm con mèo ấy mới nhúc nhích.
Ấy là lúc một cụ già xuất hiện ở góc đường mà con mèo
đang ngóng về. Cụ xuất hiện thình lình và lặng lẽ như thể từ mặt đất chui lên. Đuôi
con mèo nhẹ ve vẩy và mắt nó nhíu lại.
Xưa nay trên đường Privet Drive chưa từng có một người
nào trông kỳ quái như cụ già ấy lại qua. Cụ ốm, cao, rất già, căn cứ vào mái
tóc và chòm râu bạc phơ dài đến nổi cụ phải giắt chúng vô thắt lưng. Cụ mặc áo
thụng dài, khoác áo trùm màu tím cũng dài quét đất, mặc dù cụ đã mang đôi giày
bốt có gót cao lêu nghêu. Đôi mắt xanh lơ của cụ sáng rạng rỡ và lấp lánh phía
sau cặp kính có hình dạng nửa vành trăng. Mũi cụ thì vừa dài vừa khoằm như thể
cụ từng bị gãy mũi ít nhất hai lần. Tên của cụ là Albus Dumbledore.
Albus Dumbledore không nhận thấy là mình đã đến con đường
mà từ tên họ cho đến đôi bốt của cụ không hề được hoan nghênh chào đón. Cụ đang
bận lục lọi trong chiếc áo trùm của cụ, tìm kiếm cái gì đó. Rồi đột nhiên, có vẻ
như cụ nhận ra là mình đang bị quan sát, bởi vì cụ thình lìn ngước nhìn lên con
mèo vẫn đang ngó cụ từ trên bờ tường nhà Dursley. Ánh mắt của con mèo có vẻ làm
cụ thích thú. Cụ chắc lưỡi lẩm bẩm:
“Lẽ ra mình phải biết rồi chứ!”
Cụ đã tìm được cái mà cụ nãy giờ lục lọi trong chiếc áo
trùm. Nó giống như cái bật lửa bằng bạc. Cụ giơ nó lên cao và bấm. Ngọn đèn đường
gần nhất tắt phụt. Cụ bấm lần nữa, ngọn đèn đường kế tiếp tắt ngấm. Cụ bấm mười
hai lần như thế, cho đến khi ánh sáng còn lại trên cả con đường chỉ còn là hai
đốm sáng long lanh ở xa xa – đó là hai con mắt mèo đang nhìn cụ. Nếu bây giờ mà
có ai nhìn qua cửa sổ ra đường, thì dù có đôi mắ tọc mạch như bà Dursley cũng
chịu, không thể thấy được cái gì đang xảy ra. Cụ Albus Dumbledore cất cái tắt-lửa
vào áo trùm và đi về phía ngôi nhà số 4 đường Privet Drive. Cụ ngồi xuống trên
bờ tường, cạnh con mèo. Cụ không nhìn nó, nhưng được một lúc, cụ nói: “Thật là
hay khi gặp bà ở đây đấy, giáo sư McGonagall!”
Cụ quay sang để mỉm cười với con mèo, nhưng chẳng còn mèo
nào cả. Thay vì vậy, cụ đang mỉm cười với một bà lão trông đứng đắn, đeo kính gọng
vuông y như cái dấu vuông quanh mắt con mèo. Bà cũng khoác áo trùm, màu ngọc
bích. Tóc bà bới thành một buối chặt. Bà có vẻ phật ý rõ rệt:
“Làm sao ông biết con mèo đấy là tôi?”
“Thưa bà giáo sư yêu quí của tôi, hồi nào giờ tôi chưa từng
thấy một con mèo nào ngồi cứng đờ như thế.”
Giáo sư McGonagall nói:
“Ông mà ngồi cả ngày trên bờ tường thì ông cũng cứng đơ
thế thôi.”
“Cả ngày? Trong khi lẽ ra bà đang phải mở tiệc ăn mừng chứ?
Trên đường đến đây, tôi đã gặp ít nhất cả chục đám tiệc tùng linh đình rồi.”
Giáo sư McGonagall hít hơi một cách giận dữ và nói một
cách không kiên nhẫn:
“Vâng, mọi người ăn mừng, được thôi. Đáng lẽ ông phải thấy
là họ nên cẩn thận hơi một chút chứ - ngay cả dân Muggle cũng nhận thấy có chuyện
gì đó đang xảy ra. Họ thông báo trong chương trình thời sự đấy.”
Bà hất đầu về phía cửa sổ phòng khách tối om của gia đình
Dursley.
“Tôi nghe hết. Những đàn cú… sao băng… Chà, họ không hoàn
toàn ngu ngốc cả đâu. Họ đã nhận ra có điều gì đó. Sao băng… Tôi cá đó là trò của
Diggle. Hắn thật chẳng có đầu óc gì cả.”
Albus Dumbledore nhẹ nhàng bảo:
“Bà không thể trách như vậy được. Đã mười một năm nay
chúng ta chẳng có dịp nào để vui mừng mà.”
Giáo sư McGonagall vẫn cáu kỉnh:
“Tôi biết. Nhưng đó không phải là lý do để phát điên lên.
Đám đông cứ nhởn nhơ tụ tập bừa bãi trên đường phố giữa ban ngày, thậm chí
không thèm mặc quần áo của dân Muggle để ngụy trang, lại còn bàn tán ầm ĩ.”
Bà liếc sang cụ Albus Dumbledore ngồi bên, như thể hy vọng
cụ sẽ nói với bà điều gì, nhưng cũng không nói gì cả, nên bà nói tiếp:
“Già mà khi Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy
biến đi hẳn, người Muggle mới phát hiện ra chúng ta thì hay biết mấy. Nhưng tôi
cũng không chắc là hắn đả chết thật chưa hả ông Dumbledore?”
“Chắc chắn như vậy rồi. Thật là phước đức cho chúng ta!
Bà có dùng giọt chanh không?”
“Giọt gì?”
“Giọt chanh. Đó là một loại kẹo của dân Muggle mà tôi rất
khoái.”
“Không, cám ơn.”
Giáo sư McGonagall lạnh lùng từ chối, bà không nghĩ là nhấm
nháp kẹo lúc này lại thích hợp.
“Như tôi nói đấy, ngay cả nếu như Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy đã biến…”
“Ôi, giáo sư yêu quí của tôi, một người có đầu óc như bà
nhất định là có thể gọi hắn bằng tên cúng cơm chứ? Mớ bá láp Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy thật nhảm
nhí. Mười một năm nay tôi đã chẳng bảo mọi người cứ gọi hắn đúng theo tên của hắn:
Voldemort sao?”
Giáo sư McGonagall e dè nhìn quanh. Nhưng cụ Dumbledore
có vẻ chẳng để ý, cụ đang chăm chú gỡ hai viên kẹo dính nhau và nói tiếp:
“Nếu mà chúng ta cứ gọi bằng: Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy thì mọi sự cứ rối beng lên. Tôi thấy
chẳng có gì để sợ khi gọi bằng tên cúng cơm của Voldemort.”
Giáo sư McGonagall nói, giọng nửa lo lắng nửa ngưỡng mộ:
“Tôi biết ông không sợ. Nhưng ông thì khác. Mọi người đều
biết Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy,
thôi được, gọi là Voldemort đi, hắn chỉ sợ có mỗi một mình ông mà thôi.”
Cụ Albus Dumbledore bình thản nói:
“Bà tâng bốc tôi quá. Voldemort có những quyền lực tôi
không bao giờ có.”
“Ấy là chỉ bởi vì ông… ừ, ông quá cao thượng nên không
xài tới những quyền lực đó.”
“Cũng may là trời tối nhé. Kể cũng lâu rồi tôi chưa đỏ mặt,
từ cái lần bà Promfey nói bả khoái cái mũ trùm tai của tôi.”
Giáo sư McGonagall liếc cụ Dumbledore một cái sắc lẻm.
“Mấy con cú lượn vòng vòng chỉ chờ tung tin vịt đấy. Ông
biết mọi người đang nói gì không? Về vì sao hắn phải biến đi ấy? Về cái điều đã
chặn đứng được hắn ấy?”
Có vẻ như giáo sư McGonagall đã đạt tới đỉnh điểm then chốt
mà bà muốn tranh luận. Đó là lý do chính khiến bà đã phải ngồi chờ suốt cả ngày
trên bờ tường cứng và lạnh lẽo này. Rõ ràng là chuyện mà mọi người đang bàn tán, cho dù là chuyện gì đi nữa bà cũng không vội
tin cho đến khi Dumbledore nói với bà là chuyện đó có thật. Tuy nhiên cụ
Dumbledore vẫn đang bận lựa một viên kẹo khác chứ không trả lời.
“Chuyện mà họ đang bàn tán ấy,” bà McGonagall nhấn mạnh,
“là tối hôm qua Voldemort đã đến Hố Thần. Hắn đi tìm gia đình Potter. Nghe đồn
rằng vợ chồng Potter đã… đã…, họ đồn thôi, đã… chết rồi!”
Cụ Dumbledore cúi đầu. Giáo sư McGonagall há hốc miệng,
nghẹn ngào:
“Vợ chồng Potter… Tôi không thể tin được… Tôi không muốn
tin… Ôi, ông Dumbledore…”
Cụ Dumbledore duỗi tay vỗ nhẹ lên vai bà giáo sư, cụ chậm
rãi nói:
“Tôi biết… Tôi biết…”
Giọng giáo sư McGonagall run run tiếp tục:
“Mà chuyện chưa hết. Họ còn nói hắn tìm cách giết cả đứa
con trai của Potter, bé Harry ấy. Nhưng… hắn không giết được. Hắn không thể giết
nổi đứa bé. Không ai biết tại sao, thế nào…, nhưng họ nói… khi không thể giết
được Harry Potter, quyền lực của Voldemort bị tiêu tan. Chính vì vậy mà hắn
cũng phải biến đi.”
Cụ Dumbledore buồn bã gật đầu. Giáo sư McGonagall ấp úng:
“Chuyện đó… đó… là… là… thật sao? Hắn đã làm bao nhiêu chuyện tai quái, giết chết bao nhiêu
người… mà…, mà rốt cuộc hắn không thể giết nổi một thằng bé? Thật là không tin
được… cái gì đã chặn nổi bàn tay hắn như vậy… Nhưng bằng cách nào mà Harry
Potter sống sót?”
Cụ Dumbledore nói:
“Chúng ta chỉ có thể đoán mò thôi. Chuyện ấy có thể chẳng
bao giờ biết được chính xác.”
Giáo sư McGonagall rút ra một cái khăn tay chùi nước mắt dưới
cặp mắt kính. Cụ Dumbledore thở dài một tiếng rõ to khi rút chiếc đồng hồ vàng
trong túi ra xem xét. Cái đồng hồ ấy cũ lắm. Nó có mười hai kim nhưng không có
số. Thay vào những con số là các hành tinh nho nhỏ di chuyển quanh mép đồng hồ.
Nhưng chắc là cụ Dumbledore coi giờ được bằng cái đồng hồ đó, nên khi nhét nó lại
vào trong túi, cụ nói:
“Hagrid đến trễ. Chắc chính lão nói cho bà biết là tôi đến
đây, đúng không?”
“Đúng.”
Giáo sư McGonagall xác nhận và nói tiếp:
“Chắc ông cũng không thèm nói cho tôi biết tại sao ông lại
đến đây chứ?”
“Tôi đến đây để giao Harry Potter cho dì dượng nó. Bây giờ
nó chỉ còn có họ là bà con.”
Giáo sư McGonagall nhảy dựng lên, chỉ tay vào ngôi nhà số
4:
“Ông nói gì? Chắc là ông không có ý nói đến mấy người sống
trong đó chứ? Dumbledore, ông không thể làm vậy. Tôi đã quan sát họ suốt cả
ngày. Ông không thể tìm ra được người nào khá hơn họ sao? Mà họ cũng đã có một
đứa con trai. Tôi đã nhìn thấy thằng nhóc ấy, nó đá mẹ nó suốt quãng đường đến
tiệm bánh kẹo, khóc la vòi vĩnh cho được mấy viên kẹo. Harry Potter mà phải đến
sống ở đây sao?”
Cụ Dumbledore khẳng định:
“Đây là nơi tốt nhất cho đứa bé. Khi nó lớn lên, dì dượng
nó có thể giải thích cho nó hiểu. Tôi đã viết cho họ một lá thư.”
“Một lá thư?”
Giáo sư McGonagall lặp lại yếu ớt, thả người ngồi xuống bờ
tường, băn khoăn nói tiếp:
“Ông Dumbledore, ông thực sự tin là ông có thể giải thích
mọi chuyện trong một lá thư à? Mấy người đó sẽ không bao giờ hiểu đứa bé! Nó sẽ
nổi tiếng – như một huyền thoại. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu sau này người ta gọi
ngày hôm nay là ngày Harry Potter: sẽ có sách viết về Harry. Mọi đứa trẻ trong
thế giới chúng ta rồi sẽ phải biết đến tên nó!”
“Đúng vậy.”
Cụ Dumbledore nhướn mắt dòm qua đôi kính nửa vành trăng của
cụ một cách nghiêm túc nói rằng:
“Nhiêu đó cũng đủ hại đầu óc bất cứ đứa trẻ nào. Nổi tiếng
trước cả khi biết đi biết nói! Nổi tiếng về những điều mà nó cũng không thể nhớ
được! Bà không thấy là tốt cho nó hơn biết bao nếu nó lớn lên ngoài vòng bao phủ
của tiếng tăm, lớn lên một cách bình thường cho đến khi nó đủ lớn để làm chủ được
điều đó sao?”
Giáo sư McGonagall lại há hốc miệng, thay đổi ý kiến, nuốt
vô, ngậm miệng lại, rồi nói:
“Vâng, vâng, dĩ nhiên là ông nói đúng. Nhưng mà ông
Dumbledore ơi, làm sao mà đứa bé đến đây được?”
Bà giáo sư nhìn chòng chọc vào tấm áo trùm của cụ
Dumbledore như thể bà nghi là cụ đang giấu đứa bé trong đó. Cụ Dumbledore nói:
“Hagrid đang mang nó đến.”
“Ông cho là giao lão Hagrid một việc quan trọng như thế
này là khôn ngoan sao?”
“Tôi có thể giao cả đời tôi cho Hagrid.”
Bà McGonagall vẫn không bằng lòng:
“Tôi không nói là lão Hagrid không biết phải quấy, nhưng
mà ông cũng biết đấy, lão là chúa ẩu… Ủa? Cái gì vậy?”
Một tiếng động trầm trầm nổi lên quanh họ, nghe rầm rầm,
càng lúc càng lớn. Cả hai nhìn ra đường xem có ánh đèn xe không, thế rồi những
tiếng động nghe như sấm dội khiến cả hai ngước nhìn lên trời: một chiếc xe gắn
máy khổng lồ chạy trên không trung rồi hạ xuống, lăn bánh trên mặt đường nhựa
trước mặt họ.
Nếu cái xe gắn máy bự quá khổ, thì cũng không thấm gì so
với người ngồi trên xe. Lão hầu như cao gấp đôi người bình thường và bự có đến
gấp năm, nếu tính chiều ngang. Trông lão ta to lớn đến nổi khó tin, và lại hoang dã. Những nùi tóc râu đen thui hầu
như che kín gương mặt lão, tay lão trông như cần cẩu, còn chân thì ú na ú nục
như mình cá heo con. Trên đôi tay vạm vỡ ấy là một nùi chăn tã. Cụ Dumbledore tỏ
ra yên tâm, bảo:
“Hagrid. Cuối cùng anh đã đến. Anh kiếm đâu ra cái xe
đó?”
Lão khổng lồ cẩn thận trèo xuống xe đáp:
“Kính thưa ngài giáo sư Dumbledore, tôi mượn của Sirius
Đen. Thưa ngài, tôi đã mang được cậu bé đến đây.”
“Có lôi thôi rắc rối gì không?”
“Thưa ngài không ạ. Ngôi nhà hầu như tan hoang, nhưng tôi
đã kịp đem nó ra trước khi dân Muggle bắt đầu lăng xăng chung quanh. Đang bay tới
đây thì nó lăn ra ngủ.”
Cụ Dumbledore và giáo sư McGonagall cuối xuống đống chăn
tã. Bên trong mớ chăn ấy là đứa bé đang ngủ say. Trên vầng trán đứa bé có một vết
thương nhỏ hình tia chớp. Giáo sư McGonagall thì thầm:
“Có phải đó là…”
“Phải. Nó sẽ mang vết thẹo đó suốt đời.”
“Ông không thể xóa nó đi sao ông Dumbledore?”
“Nếu mà tôi làm được thì tôi cũng chẳng đời nào làm. Thẹo
cũng có lúc xài đến. Tôi đây cũng có một cái thẹo ở trên đầu gối, nó có giá trị
như cái bản đồ đường xe điện ngầm ở London ấy. Thôi, Hagrid, đặt nó ở đây,
chúng ta nên làm xong chuyện này cho rồi.”
Cụ Dumbledore bồng Harry đi về phía nhà Dursley. Lão
Hagrid ấp úng:
“Tôi… tôi có thể hôn tạm biệt đứa bé không ạ?”
Lão cúi cái đầu lông lá bờm xờm xuống mặt đứa bé và dụi mớ
râu ria lởm chởm của lão lên làn da non của đứa bé. Rồi thình lình lão Hagrid
thốt lên một tiếng tru như tiếng cho bị thương. Giáo sư McGonagall vội nhắc nhở:
“Xuỵt! Lão đánh thức đám Muggle bây giờ.”
Lão Hagrid thổn thức:
“Xin lỗi. Hic. Hic. Nhưng tôi không thể… Hic. Hic. Vợ chồng
Potter chết rồi, và Harry bé bỏng phải đi ở nhờ dân Muggle. Hic. Hic.”
Giáo sư McGonagall vỗ về:
“Vâng, vâng, buồn lắm, nhưng mà ráng nín khóc đi, Hagrid,
không thôi bọn mình bị lộ đấy.”
Lão Hagrid cố dằn cảm xúc, đứng bên giáo sư McGonagall,
nhìn theo cụ Dumbledore bồng Harry Potter đi qua sân vườn đến cửa trước của nhà
Dursley, nhẹ nhàng đặt đứa bé xuống bậc cửa, lấy trong áo trùm ra một lá thư,
nhét lá thư dưới lớp chăn quấn quanh đứa bé, rồi trở lại với hai người kia. Cả
ba đứng lặng cả phút nhìn đăm đăm cái bọc chăn tã đang ấp ủ đứa trẻ. Vai của
Hagrid run lên từng chập, mắt của giáo
sư McGonagall chớp chớp liên tục, và cái tia sáng lấp lánh thường lóe lên từ
đôi mắt của cụ Dumbledore cũng dường như tắt ngóm. Cuối cùng cụ Dumbledore nói:
“Thôi, đành thế. Chúng ta chẳng còn việc gì ở đây nữa. Có
lẽ chúng ta đi nhập tiệc với những người khác thôi.”
“Dạ.” Tiếng lão Hagrid đáp rõ to. “Tôi sẽ đem trả lại
Sirius cái xe này. Chào giáo sư McGonagall, và xin chào ngài, giáo sư
Dumbledore.”
Chùi nước mắt còn đang chảy ròng ròng trên mặt, lão
Hagrid nhảy lên xe và đạp một cái cật lực cho máy nổ, rồi lão rú ga phóng vào
không trung đen như hũ nút.
Cụ Dumbledore cúi đầu chào bà McGonagall:
“Tôi mong sớm gặp lại bà, thưa giáo sư McGongall.”
Giáo sư McGonagall hỉ mũi một cái để đáp lễ. Cụ
Dumbledore xoay người bước xuống đường. Tới góc đường, cụ dừng bước, lấy trong
áo trùm ra cái tắt-lửa bằng bạc. Cụ giơ lên bấm nó một cái, rồi mười hai cái, lập
tức mười hai cái bóng đèn trên đường Privet Drive bật sáng, nhưng cũng không kịp
soi bóng một con mèo khoang to tướng chuồn lẹ làng sau khúc quanh ở phía đầu
kia con đường.
Còn lại một mình, cụ Dumbledore nhìn lần cuối cái bọc
chăn tã trên bật cửa ngôi nhà số 4. Cụ ngậm ngùi nói:
“Chúc cháu may mắn, Harry.”
Rồi, phất tấm áo trùm một cái, cụ biến mất.
Một luồng gió thoảng qua những hàng rào cây xanh của ngôi
nhà trên đường Privet Drive. Ngôi nhà ngăn nắp và những hàng rào cắt xén ngay
ngắn ấy là nơi cuối cùng mà người ta có thể mong đợi một chuyện kỳ lạ xảy ra. Harry
Potter trở mình trong cuộn chăn mà không thức giấc. Một nắm tay nhỏ xíu của bé
đặt trên lá thư sát bên mình, và bé ngủ tiếp, không hề biết là vài tiếng đồng hồ
nữa bà Dursley sẽ đánh thức bé dậy bằng một tiếng hét thảng thốt khi bà mở cửa
để bỏ những vỏ chai sữa rỗng. Đứa bé cũng không biết là mình sẽ trở thành món đồ
chơi của thằng anh họ Dudley, bị nó tha hồ ngắt véo trong nhiều tuần lễ sau đó.
Đứa bé không hề biết gì cả về những điều đó trong lúc này, cái lúc mà khắp nơi
trên cả nước, tiệc tùng linh đình đang diễn ra, người người vẫn đều nâng ly
chúc tụng: “Uống mừng Harry Potter! Đứa bé vẫn sống!”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét