24/1/15

NHỮNG LÁ THƯ KHÔNG XUẤT XỨ


Vụ đào thoát của con Boa Constrictor Brazil khiến cho Harry lãnh một án phạt lâu nhất từ trước tới giờ. Khi Harry được phép ra khỏi gầm cầu thang thì kỳ nghỉ hè đã bắt đầu và Dudley đã làm bể tanh banh cái máy quay phim mới của nó, làm tan nát cái máy bay điều khiển từ xa, và tông vô bà Figg đang chóng nạng băng qua đường nhân dịp nó tập cỡi chiếc xe đạp đua lần đầu tiên, làm bà cụ té chổng kềnh.

            Harry rất mừng là năm học đã chấm dứt, nhưng cũng không thể hoàn toàn thoát được băng Dudley, tụi nó kéo đến nhà chơi mỗi ngày. Piers, Dennis, Malcolm và Gordon đều có xác thân to lớn và đầu óc bé tí, nhưng Dudley là đưa to xác nhất và đần nhất trong bọn, nên được làm thủ lĩnh. Cả lũ rất khoái tham gia trò thể thao thích nhất của Dudley là săn lùng Harry Potter.

            Đây chính là lý do mà Harry thường chuồn khỏi nhà, đi lang thang đâu đó và nghĩ vẩn vơ về chuyện kỳ nghỉ sắp hết. Nghĩ tớ đó, nó thấy lóe lên chút tia hy vọng: tháng chin tới nó sẽ vô trường cấp hai và lúc đó, lần đầu tiên trong đời, nó sẽ khỏi phải đi học chung với Dudley. Thằng đó đã được nhận vào trường trung học tư mà hồi xưa ông Dursley từng học, trường Smeltings. Piers cũng vô trường đó. Nhưng Harry thì ngược lại, sẽ vô trường công lập địa phương, trường Tường Đá. Dudley cho là như vậy thì đã lắm. Nó bảo Harry:

            “Ở trường Tường Đá họ nhét đầu người ta vô cầu tiêu vào ngày nhập học. Mày có muốn lên lầu thực tập trước không?”

            “Không. Cám ơn. Cái cầu tiêu thúi của mày làm sao có đủ những thứ khủng khiếp nhưng trong cái đầu của mày – Cái đầu mày phát rồ rồi.”

            Nói xong, Harry chạy biến thiệt lẹ trước khi thằng Dudley thực hành được ý đồ trong cái đầu của nó.

            Một ngày vào tháng bảy, bà Dursley dắt Dudley đi London mua đồng phục của trường Smeltings cho nó. Harry được đem gửi cho bà Figg trông chừng. Lần này bà Figg không đến nỗi nào. Hóa ra là một trong mấy con mèo của bà đã làm bà trượt té gãy giò, nên bây giờ bà dường như mất hết hứng với bọn mèo. Bà để cho Harry được ngồi xem truyền hình và còn cho nó một miếng bánh sô-cô-la có mùi vị như thể được làm từ nhiều năm trước.

            Buổi tối hôm đó, Dudley trong bộ đồng phục mới toanh oai vệ đi diễu quanh phòng khách cho cha mẹ nó ngắm. Nam sinh trường Smeltings mặc áo khoác có đuôi màu nâu sẫm, quần chẽn (cụt tới gối) màu cam, và đội một cái nón rơm kêu là bôt-tơ. Tụi nó cũng cầm gậy có mấu, dùng để nện nhau khi thầy giáo không để mắt tới. Điều này có thể coi như là một sự rèn luyện tốt cho đời chúng sau này.

            Ngắm nghía quí tử Dudley mặc quần chẽn mới, ông Dursley xúc động nói đây là giây phút tự hào nhất trong đời ông. Bà Dursley thì bật khóc và nói là bà không thể tin bé Dudley-đờ-tí-tẹo của bà đã lớn lên và đẹp trai đến thế. Còn Harry thì tự cấm mình chớ nói ra cảm tưởng. Nó biết hai be sườn của nó dám bể vì nín cười lắm.

            Sáng hôm sau, Harry vừa bước vô bếp thì ngửi thấy ngay một mùi khủng khiếp. Hình như cái mùi ấy xuất phát từ một cái chậu lớn. Nó bước tới gần để ngó một cái. Cái chậu ngập đầy một thứ gì trông như nùi giẻ ngập trong làn nước xám. Nó hỏi dì Petunia:

            “Cái gì vậy?”

            Môi dì mím lại như mọi khi Harry dám đặt ra một câu hỏi. Dì nói:

            “Đồng phục mới của mày.”

            Harry nhìn vô chậu lần nữa. Nó nói:

            “Ôi, con đâu dè nó phải bị nhúng ướt dữ vậy.”

            Dì Petunia nạt:

            “Đồ ngu. Tao đang nhuộm xám đồ cũ của Dudley cho mày. Tao nhuộm xong thì trông nó cũng giống như đồ mới của những đứa khác thôi.”

            Harry rất nghi ngờ điều đó, những nghĩ mình không cãi lại là tốt nhất. Nó ngồi xuống cạnh bàn ăn, cố gắng không nghĩ tới hình ảnh nó trông bộ đồ khín đó, đi đến trường Tường Đá vào ngày khai giảng niên học mới. Có lẽ trông nó sẽ giống như một đứa đội lốp da voi già.

            Bộ đồng phục mới của Harry làm cho Dudley và dượng Vernon nhăn mũi ngay khi bước vô nhà bếp. Ông Dursley, như thông lệ, giở tờ báo ra đọc và Dudley thì dộng cây gậy Smeltings lên bàn. Giờ đây đi đâu nó cũng kè kè cây gậy đó.

            Họ nghe tiếng mở rãnh bỏ thư trên cửa và tiếng những lá thư rơi xuống thảm chùi chân ở cửa.

            Ông Dursley nói đằng sau tờ báo:

            “Dudley ra lấy thư đi con.”

            “Kêu Harry lấy á!”

            “Harry, ra lấy thư.”

            “Kêu Dudley lấy á!”

            “Đập cho nó một gậy Smeltings coi, Dudley.”

            Harry vọt ra né cây gậy Smeltings và đi ra cửa lấy thư. Có ba thứ nằm trên thảm: một bưu thiếp của em gái ông Dursley gởi, cô ấy đang ngao du ở đảo Wight, một phong bì màu nâu giống như thư đòi tiền điện nước, và – một bức thư gởi Harry.

            Harry cầm lên, nhìn bức thư chòng chọc, tim nó đập bưng bưng như có một ban nhạc cao su khổng lồ đang chơi. Cả đời nó, từ hồi nào giờ, chưa từng có ai viết thư cho nó. Ai mà viết chứ? Nó không có bạn bè, không có bà con nào khác. Nó cũng không làm thẻ mượn sách thư viện, nên ngay cả thư đòi sách mượn quá hạn nó cũng khỏi có. Vậy mà bức thư này đây, ghi rõ ràng trên phong bì, không thể có sự nhầm lẫn nào hết:

Ông Harry Potter

Phòng xép dưới gầm cầu thang

4 Privet Drive

            Phong bì dày và nặng, làm bằng giấy da vàng nhạt, và địa chỉ thì được viết bằng mực xanh biếc. Thư không dán tem.

            Hai tay Harry run rẩy khi lật qua lá thư, thấy một dấu khằn sáp màu tìm mang huy hiệu: một con sư tư, một con ó, một quân hàm và một con rắn quấn quanh mẫu tự H.

            Ông Dursley từ trong nhà bếp quát ra:

            “Lẹ lên, thằng kia. Mày còn làm gì ngoài đó, kiểm tra bom thư hả?”

            Ông khoái trá ra mặt về câu hài hước thú vị của mình.

            Harry trở lại nhà bếp, vẫn đăm đăm nhìn lá thư gởi cho mình. Nó đưa ông Dursley cái thư đòi tiền điện nước và tấm bưu thiếp, rồi ngồi xuống, từ từ mở cái phong thư màu vàng.

            Ông Dursley xé phong thư đựng hóa đơn, khịt mũi khinh bỉ, và liếc qua tấm bưu thiếp. Ông báo cho bà Dursley biết:

            “Cô Marge bệnh. Ăn nhầm đồ dấm dớ…”

            “Ba!”

            Bỗng nhiên Dudley la lên.

            “Ba! Thằng Harry có cái gì kìa.”

            Lúc đó Harry sắp mở lá thư của nó ra, một bức thư cũng viết trên giấy da như cái phong bì. Nhưng bàn tay nải chuối sứ của ông Dursley đã chộp lấy, giật phăng lá thư. Harry la lên, cố giật lại bức thư:

            “Thư của con mà.”

            Ông Dursley nạt:

            “Ai viết thư cho mày?”

            Ông rũ lá thư bằng một tay và liếc đọc. Mặt ông chuyển từ đỏ sang xanh còn nhanh hơn đèn đường. Mà không dừng lại ở đó. Trong vòng vài giây, nó thành ra trắng bệch như bột. Ông lắp bắp:

            “P… P… Petunia…”

            Ông đang gọi tên vợ. Dudley cố giành lá thư, nhưng ông Dursley đã giơ nó cao quá tấm với của con trai. Bà Dursley lấy được thư, tò mò đọc dòng đầu tiên. Bà suýt té xỉu. Bà ôm ngực mình thở hổn hểnh:

            “Anh Vernon ơi. Trời đất ơi – Anh Vernon ơi.”

            Họ trợn mắt nhìn nhau, dường như quên béng rằng Dudley và Harry vẫn đang ngồi ở đó. Dudley đâu có chịu bị coi thường như vậy. Nó gõ đầu cha nó bằng cây gậy Smeltings, và la lớn:

            Con muốn đọc lá thư đó.”

            Harry tức tối kêu lên:

            “Con muốn đọc lá thư đó, bởi vì đó là thư gởi cho con.”

            Ông Dursley nhét lá thư trở vô phong bì càu nhàu:

            “Hai đứa bây đi ra ngoài hết.”

            Harry không chịu động đậy. Nó hét:

            “TRẢ BỨC THƯ CHO CON.”

            Dudley cũng hét:

            “Cho con coi bức thư đó.”

            Ông Dudley gầm lên:

            “ĐI RA!”

            Ông túm cổ cả hai đứa quẳng ra ngoài hành lang, đóng sầm cánh cửa nhà bếp. Dudley và Harry lập tức đánh nhau một cách lặng lẽ nhưng đầy tức tối để giành lỗ khóa mà kê tai vô nghe lén. Dudley thắng, cho nên Harry đành nằm ẹp búng dưới sàn để dỏng tai nghe qua khe cửa. Cặp kiếng gãy của nó còn lòng thòng bên tai sau vụ đánh nhau vừa rồi với Dudley.

            Bên trong nhà bếp, giọng của bà Dursley run run:

            “Anh Vernon coi cái địa chỉ kìa – Làm sao mà họ cả chỗ thằng nhỏ ngủ kia chứ? Anh có thấy họ đang rình mò căn nhà mình không?”

            Ông Dursley lầm bầm hoang mang:

            “Rình mò… do thám…, không chừng đang theo dõi chúng ta.”

            “Nhưng mình làm sao đây anh Vernon? Mình có trả lời thư không? Anh hãy viết cho họ là mình không muốn…”

            Qua khe cửa, Harry có thể nhìn thấy gót giầy đen của ông Dursley đi qua đi lại trên sàn nhà bếp. Cuối cùng ông nói:

            “Không. Ta cứ kệ xác. Nếu họ không nhận được thì trả lời thì… Ừ, tốt nhất là đừng thèm trả lời, đừng làm gì cả…”

            “Nhưng…”

            “Petunia, anh không muốn có một… trong nhà này. Chẳng phải chúng ta đã thề là cấm cửa cái đồ điên khùng nguy hiểm đó khi chúng ta nhận nuôi nó sao?”

            Chiều hôm đó, đi làm về, ông Dursley làm một chuyện mà từ nào giờ đố ông thèm làm: ông chui xuống gầm cầu thang gặp Harry.

            Vừa thấy ông Dursley thò đầu vô, Harry hỏi ngay:

            “Thư của con đâu? Ai viết cho con vậy?”

            Ông Dursley nói cộc lốc:

            “Không ai viết. Nhầm địa chỉ. Ta đốt rồi.”

            Harry tức tối nói:

            “Đâu có nhầm. Nó ghi rõ ràng phòng xép dưới gầm cầu thang mà.”

            “IM!”

            Ông Dursley quát, khiến mấy con nhện hết hồn té từ trên trần xuống. Ông hít vài hơi thở sâu rồi ép mình nhe răng ra cười, một nụ cười hết sức đau khổ.

            “Ờ, phải rồi Harry à, cái phòng xép dưới gầm cầu thang này ấy mà. Dì con và dượng đã suy nghĩ rồi… con bây giờ đã hơi lớn so với nó… dì dượng thấy cũng được nếu con dọn lên phòng ngủ phụ của Dudley.”

            “Vì sao vậy?”

            Ông Dursley quạu:

            “Cấm hỏi. Gom đồ đạc lên lầu ngay.”

            Ngôi nhà Dursley có bốn phòng ngủ: một phòng dành cho ông bà Dursley, một phòng dành cho khách (thường thường là cô Marge, em gái ông Dursley), một phòng để cho Dudley ngủ, và một phòng để Dudley cất tất cả đám đồ chơi mà nó không chất hết được trong phòng ngủ của nó.

            Đồ đạc của Harry thì chỉ cần ôm gọn lên lầu một hiệp là xong. Nó ngồi trên giường, trong một căn phòng ngủ thực sự và chăm chú nhìn quanh. Hầu như món gì cũng sứt càng gãy gọng. Cái máy quay phim mới sắm chưa đầy tháng nằm chỏng chơ trên cái xe tăng mà Dudley có lần cán trúng con chó của nhà hàng xóm. Trong một góc phòng là cái máy truyền hình thứ nhất của Dudley. Nó đã đá lủng màn hình khi chương trình nó khoái nhất ngưng chiếu. Có một cái chuồng chim, có lần nhốt con két mà Dudley đã đem vô trường đổi lấy cây súng hơi. Cây súng đó bây giờ vắt vẻo trên kệ và cong vẹo vì bị Dudley ngồi đè lên. Trên kệ đầy sách, và đó là thứ duy nhất trong phòng có vẻ chưa từng bị đụng tới.

            Phía tầng dưới vọng lên tiếng của Dudley đang vặc mẹ nó:

            “Con không muốn nó ở đó… con cần cái phòng đó… đuổi nó ra đi…”

            Harry thở ra và duỗi người nằm dài trên giường. Ngày hôm qua nó sẵn sang đánh đổi bất cứ thứ gì để được ở trong căn phòng này. Hôm nay nó thà ở lại dưới gầm cầu thang với lá thư của nó, còn hơn được ở trên này mà không có lá thư.

            Vào bữa ăn sáng hôm sau, mọi người hơi yên lặng. Dudley còn bị sốc. Nó đã gào khóc, đã phang cha nó mấy gậy Smeltings, đã giả bệnh, đá cho mẹ nó mấy phát, liệng con rùa của nó qua nốc nhà kính, mà không đòi lại được căn phòng. Harry đang nghĩ đến giờ phút này ngày hôm qua và cay đắng tiếc là lúc đó đã không mở lá thư khi còn ở trong hành lang. Dì và dượng nó vẫn còn đưa mắt nhìn nhau đầy uẩn tình...

            Lại có thư đến, ông Dursley bảo Dudley ra lấy. Ông đang cố tỏ ra tử tế với Harry. Họ nghe tiếng Dudley khua cây gậy Smeltings ầm ĩ trong hành lang. Rồi họ nghe tiếng nó la toáng lên:

            “Lại một thư khác nữa nè: Ông Harry Potter, Phòng ngủ nhỏ nhất, số 4 Privet Drive.”

            Ông Dursley thốt ra một tiếng uất nghẹn, nhảy ra khỏi ghế, chạy ra hành lang, có Harry bám sát gót. Ông Dursley phải vật thằng Dudley xuống đất mới giành được lá thư một cách vô cùng khó nhọc, bởi vì Harry cũng đeo cứng cổ ông phía lưng để giành cho được lá thư của nó. Sau một phút vật lộn tay ba, ai cũng bị chọc cho vài gậy Smeltings, ông Dursley cuối cùng đứng thẳng lên được, hớp lấy không khí mà thở, tay nắm chặt lá thư của Harry. Ông thở khò khè bảo Harry:

            “Cút về gầm cầu thang – À, ý dượng nói là về phòng ngủ của con. Còn Dudley, đi… đi chỗ khác chơi.”

            Harry đi loanh quanh trong căn phòng mới của nó. Có ai đó cũng đã biết là nó đã dọn từ phòng xép dưới cầu thang lên căn phòng này, và dường như người ấy cũng đã biết nó không nhận được lá thư. Chắc chắn là họ sẽ quyết gởi lại lá thư đó. Lần tới nhất định Harry sẽ nhận được. Nó nghĩ ra một kế hoạch.

            Cái đồng hồ báo thức cũ kỹ hỏng hóc nhiều phen reo lên vào lúc 6 giờ sáng hôm sau. Harry ngắc chuông ngay rồi lặng lẽ mặc quần áo vào. Nó cố gắng không làm cho gia đình Dursley thức giấc. Nó len lén xuống cầu thang, không bật ngọn đèn nào.

            Nó tính đi ra góc đường Privet Drive, đứng chờ ông phát thư. Nhưng trong khi đang lò dò trong bóng tối của hành lang ra cửa, nó dẫm phải một cái gì mềm mềm cứng cứng và nghe tiếng rú:

“AAAAAA!”

Harry nhảy bắn lên không trung. Cái đống bùng nhùng chắn ngang cửa đó là một thứ gì còn sống!

Nhờ ánh đèn từ trên lầu rọi xuống, Harry kinh hoàng nhận ra giữa đống bùng nhùng ấy là gương mặt dượng Vernon. Ông Dursley đã nằm ngay tại cửa ra vào và ngủ trong một cái túi ngủ suốt đêm qua, hiển nhiên là để ngăn Harry thực hiện chính cái điều mà nó mưu toan làm. Ông quát tháo Harry chừng nửa giờ rồi bảo nó vô nhà bếp pha trà.

Harry khốn khổ lê bước vô nhà bếp và khi nó quay trở ra thì thư từ đã đến, nằm ngay trên đùi của ông Dursley. Harry có thể nhìn thấy ba bức thư có ghi địa chỉ bằng mực xanh biếc. Nó vừa mới nói:

“Con muốn…”

…thì ông Dursley đã xé lá thư thành trăm mảnh vụn ngay trước mắt nó. Ông không thèm đi làm ngày hôm đó. Ông ở nhà để đóng bít cái rãnh bỏ thư trên cánh cửa. Ông giải thích cho vợ:

“Em hiểu không? Họ mà không đưa thư được nữa thì họ phải bỏ cuộc thôi.”

Bà Dursley tán thành”

“Em chắc là thành công, anh Vernon à.”

Vừa đóng một cây đinh, vừa ngoạm miếng bánh trái cây mà bà Dursley vừa mới đem ra, ông Dursley vừa nói:

“Ôi, đầu óc của bọn đó kỳ quái lắm, chứ không như đầu óc của chúng ta đâu.”

Vào ngày thứ sáu, có tới một tá thư được gởi đến cho Harry. Bởi vì thư không thể bỏ qua rãnh thư trên cửa nên chúng được chuồi vô qua khe hở dưới cánh cửa, hay bên hông cửa, và vài lá thư còn được thảy qua cửa sổ nhỏ trong phòng tắm ở tầng trệt.

Ông Dursley ở nhà một ngày nữa. Sau khi đốt hết các lá thư, ông lấy búa và đinh đóng bít tất cả mọi khe hở vết nứt quanh căn nhà, kể cả cửa trước và cửa sau, để không cho ai đi ra hết. Ông vừa làm vừa ngâm nga bài “Nhón gót qua vườn bông tulips”, và hễ nghe có tiếng động nhỏ nào ông cũng nhảy dựng lên.

Đến thứ bảy thì sự việc bắt đầu vuột ra ngoài tầm tay của ông. Hai mươi bốn lá thư gởi cho Harry được cuộn lại và giấu lẫn trong hai tá trứng mà người giao hàng hết sức bối rối chuyền qua cửa sổ phòng khách cho bà Dursley.

Ông Dursley điên cuồng gọi điện thoại đến sở bưu điện và tiệm bán trứng để kiếm cho ra thủ phạm, hay kiếm cho ra người nào đó để phàn nàn khiếu nại. Bà Dursley thì băm vụn những lá thư trong cái máy nghiền thức ăn của bà.

Dudley ngạc nhiên hỏi Harry:

“Ai trên thế gian này lại muốn liên lạc với mày đến như vậy?”

Sáng chủ nhật, ông Dursley ngồi vô bàn ăn sáng, trông mỏi mệt và hơi bệnh, nhưng lại vui mừng. Ông phấn khởi nói với vợ con khi quét múc lên tờ báo:

“Bữa nay không phát thư. Khỏi lo về mấy lá thư chết tiệt đó.”

Nhưng ông chưa dứt cầu thì có cái gì đó rớt từ trên ống khói xuống lò sưởi, dội lên và bắn vô gáy ông. Kế tiếp là ba bốn chục lá thư tuôn ào ào theo ống khói xuống như những viên đạn bắn rào rào. Cả nhà Dursley hoảng hồn kiếm chỗ núp. Harry nhảy phốc lên cố bắt cho được một lá thư. Nhưng ông Dursley đã túm lấy cổ tay nó và lẳng ra hành lang.

“RA! CÚT RA!”

Bà Dursley và quý tử Dudley cũng tay che đầu, tay bưng mặt chạy ra ngoài. Ông Dursley đóng sầm cửa lại. Ở bên ngoài vẫn còn nghe những lá thư đổ xuống rào rào, dội xuống sàn, văng vô tường.

Ông Dursley cố gắng giữ giọng bình tĩnh trong lúc phủi những mảng tro bám bộ ria mép của ông.

“Kệ xác nó. Tất cả mọi người mau chuẩn bị trong năm phút để ra đi. Chúng ta sẽ đi khỏi nơi đây. Chỉ gói gém quần áo thôi. Không nói năng gì hết.”

Trông mặt ông lúc ấy hung tợn hơn cực kỳ với một nửa bộ ria mép đã biến mất, nên không ai dám hé răng nói nửa lời. Mười phút sau, họ lách qua cánh cửa đã bị đóng nẹp để chui vào trong xe hơi, lái thật nhanh ra xa lộ. Dudley đang thút thít khóc trên bang ghế sau; chẳng là cha nó đã đụng phải đầu nó khi ông vụt bỏ những truyền hình, máy tính, đầu video mà nó ráng nhét vô cái túi đựng đồ thể thao của nó.

Họ lái xe đi. Và cứ lái xe đi. Ngay cả bà Dursley cũng không dám hỏi là họ đang đi đâu. Thỉnh thoảng ông Dursley quẹo bất tử và chạy ngược lại hướng đang chạy một lúc. Mỗi lần làm vậy, ông lại lầm bầm:

“Quẳng hết… quẳng hết…”

Họ không ngừng để ăn hay uống suốt cả ngày. Đêm xuống, Dudley rống lên. Trong đời nó chưa từng trải qua ngày nào thê thảm như thế. Vừa đói, vừa bỏ lỡ năm chương trình truyền hình mà nó khoái xem nhất, và cả ngày nay nó vẫn chưa làm nổ tung được một địch thủ nào trong trò chơi trên máy tính của mình.

Cuối cùng ông Dursley ngừng xe trước một khách sạn âm u ở ngoại ô một thành phố lớn. Dudley và Harry ở chung một phòng có giường đôi và những tấm vải trải giường ẩm mốc. Chẳng mấy chốc Dudley đã ngáy o o, nhưng Harry thì cứ trăn trở, ngồi trên bệ cửa sổ đăm đăm nhìn xuống những ánh đèn xe cộ chạy dưới đường.

Hôm sau họ ăn bánh bắp, cà chua đóng hộp và bánh mì nướng vào bữa điểm tâm. Họ vừa ăn xong thì người chủ khách sạn đi tới bàn nói:

“Xin lôi, không biết có ông Harry Potter ở đây không? Tôi nhận được hàng trăm lá thư như thế này ở quầy tiếp tân.”

Bà giơ cao một lá thư để cho mọi người đọc được địa chỉ ghi bằng mực xanh biếc:

Ông Harry Potter

Phòng 17

Khách sạn Cảnh Đường Sắt

Xứ Cokeworth

Harry giơ tay chụp lá thư nhưng bị ông Dursley đánh bạt bàn tay nó bỏ đi. Bà chủ khách sạn trợn mắt ngó. Ông Dursley nhanh chóng đừng dậy đi theo bà chủ khách sạn:

“Tôi sẽ đi nhận hết thư.”

Nhiều giờ sau, bà Dursley khép nép thỏ the với chồng:

“Anh yêu, mình về nhà mình chẳng hơn sao?”

Nhưng ông Dursley chẳng có vẻ gì là có nghe bà vợ nói. Chính xác là ông đang tìm kiếm cái gì thì không ai biết. Ông cứ lái xe vô tuốt giữa rừng, rồi lái ra, rồi lại chạy tiếp. Cứ như vậy, họ băng qua ruộng đang cày, tới giữa cây cầu bỏ không, và lên tuốt tầng cao nhất của bãi đậu xe nhiều tầng.

Xế trưa hôm đó, Dudley hỏi má nó:

“Ba điên rồi, phải không má?”

Ông Dursley đã đậu chiếc xe gần bờ biển, khóa xe nhốt mọi người bên trong rồi biến mất.

Trời bắt đầu mưa. Những giọt mưa to rơi lộp độp xuống nóc xe. Dudley sụt sịt khóc. Nó tỉ tê với mẹ:

“Thứ hai rồi. Tối nay ti-vi chiếu chương trình Humberto vĩ đại. Con muốn ngừng ở đâu mà có một cái ti-vi.”

Thứ hai. Harry sực nhớ ra. Có thể dựa vào Dudley và các chương trình truyền hình của nó mà biết chính xác các ngày trong tuần. Nếu đúng hôm nay là thứ hai thì ngày mai – thứ ba, là sinh nhật thứ mười một của Harry. Đành rằng sinh nhật của Harry thì cũng chẳng xôm tụ gì – năm ngoái, gia đình Dursley cho nó một cái móc treo áo khoác và một đôi vớ cũ của ông Dursley. Cho dù vậy thì không phải ngày nào cũng là sinh nhật mười một tuổi của mình.

Ông Dursley đã trở lại với một nụ cười trên môi. Ông còn cầm theo một cái gói gì dài dài, không thèm trả lời vợ là ông đã mua cái gì. Ông nói:

“Kiếm ra một chỗ toàn hảo rồi. Nào, mọi người ra đây.”

Bên ngoài xe trời rất lạnh. Ông Dursley chỉ cho mọi người xem một cái giống như một tảng đá lớn ở ngoài biển khơi. Nhô trên mỏm đá là một cái lều con thảm hại nhất mà người ta có thể tưởng tượng ra. Điều chắc chắn là ở đó không có ti-vi.

Ông Dursley xoa hai bàn tay với nhau phấn khởi nói:

“Dự báo là có bão đêm nay. Và ông đây đã tử tế đồng ý cho chúng ta mượn chiếc xuống.”

Một lão già không răng đang lừng lững tiến tới gần họ với nụ cười hết sức quỉ quyệt. Lão giơ tay chỉ một chiếc xuồng cũ kỹ đang bập bềnh trên làng nước xám bạc phía dưới kia. Ông Dursley ra lệnh:

“Tất cả mọi người lên xuồng! Ta đã mua ít đồ ăn rồi.”

Trên xuồng lạnh cóng người. Làn nước biển buốt giá văng tóe lên khi họ hiệp lực với làn nước mưa lạnh tê trên trời đổ xuống làm cho ai nấy ngồi rụt cổ ro ro. Thế mà vẫn bị những cơn gió quất vào mặt rát cả da. Sau một thời gian tưởng như dài mấy tiếng đồng hồ, xuồng có vẻ đã đến được mỏm đá. Ông Dursley vừa loạng choạng chụp ếch vượt trượt pa-te dẫn cả đám vô căn chòi tồi tàn duy nhất trên đảo.

Bên trong chòi thật là khủng khiếp: nồng nặc mùi rong biển, và gió thì gào thét luồn qua những chỗ hơ trên vách ván, bếp lửa ẩm ướt và trống trơ. Cái chòi được chia làm hai gian.

Đồ ăn mà ông Dursley đem theo chỉ là một túi khoai tây chiên cho mỗi người và bốn trai chuối. Ông cố nhóm lửa lò sưởi bằng mấy cái bao đựng khoai tây chiên, nhưng mấy cái bao rỗng này chỉ có rúm lại và bốc khói mù mịt. Dù vậy ông Dursley vẫn xoa tay phấn khởi:

“Bây giờ thì đừng hòng thư với từ nữa.”

Ông đang trong trạng thái phấn chấn. Rõ ràng là ông tin tưởng tuyệt đối là chớ hòng có người nào đến được nơi đây trong giông bão như vầy để mà đưa thư. Harry cũng thấy vậy, dù trong lòng chẳng vui chút nào với điều đó.

Khi đêm xuống, cơn bão được dự báo trước nổi lên hung tợn quanh họ. Những ngọn sóng cao quất ầm ầm vào vách chòi và cơn gió điên gầm gào xô những cánh cửa sổ run lên bần bật.

Bà Dursley kiếm được một cái chăn mốc trong gian phòng bên, trải lên cái ghế dài bị mối gặm để giả làm cái giường cho Dudley ngủ tạm. Bà và ông Dursley thì ngủ ở trên cái giường ọp ẹp ở phòng bên. Còn Harry thì bị bỏ mặc xác. Nó tự kiếm chỗ nào êm nhất trên sàn nhà, nằm cuộn mình như con tôm khô dưới một mớ giẻ vụn coi như là mền.

Cơn bão càng lúc càng dữ dội khi đêm khuya dần. Harry không thể nào ngủ được. Nó cứ trăn trở qua lại, ráng tìm một tư thế nằm dễ chịu hơn để vỗ về cái bao tử rỗng đang đánh trống trong bụng. Trong khi đó Dudley ngáy như thể đang hòa ca với tiếng gió rú và tiếng sấm rền ngoài trời. Cánh tay của nó buông thỏng bên cạnh ghế dài, những con số dạ quang trên đồng hồ đeo tay của Dudley cho biết còn mười phút nữa thì đến nửa đêm và Harry sẽ đúng mười một tuổi.

Harry nằm dài chờ đợi sinh nhật của mình đang nhích tới, băn khoăn không biết ông bà Dursley có nhớ ra sinh nhật của nó không, rồi thắc mắc không biết người viết thư cho nó bây giờ đang ở đâu.

Năm phút trôi qua, Harry nghe như có một tiếng “rắc” bên ngoài. Nó mong sao mái chòi không sập xuống, mặc dù mái nhà mà sập xuống đắp lên mình nó thì chắc sẽ ấm hơn. Còn bốn phút nữa là tới sinh nhật Harry. Có thể khi cả bọn được trở về thì ngôi nhà ở số 4 đường Privet Drive đầy ắp những lá thư, biết đâu Harry sẽ tìm cách chôm được một lá.

Còn ba phút nữa. Không biết có phải biển đang vả vào mỏm đá ầm ầm ngoài kia? Và (còn hai phút nữa) cái tiếng ken két buồn cười ấy là cái gì? Hay là hòn đảo con này đang bị sóng đánh bể vụn chìm xuống biển?

Còn một phút nữa và Harry sẽ mười một tuổi. Ba mươi giây… hai mươi giây… mười… chin… Hay là đánh thức Dudley, chỉ để chọc tức nó chơi. Ba giây… hai… một…

BÙM

Cái chòi bị chấn động run lên và Harry ngồi bật dây, đăm đăm nhìn ra cửa. Có ai đó ở bên ngoài đang đập cửa đòi vào.

26/3/14

TẤM KÍNH BIẾN MẤT

          Gần mười năm đã trôi qua kể từ ngày vợ chồng Dursley thức dậy phát hiện ra đứa cháu trai ở bậc cửa, nhưng con đường Privet Drive vẫn không hề thay đổi chút nào. Mặt trời vẫn mọc lên và soi tỏ con số 4 bằng đồng trên cửa nhà Dursley. Ánh nắng tràn vào căn phòng khách hầu như vẫn y chang hồi trước, hồi ông Dursley ngồi xem bản tin thời sự định mệnh về những con cú. Chỉ có những tấm ảnh treo bên lò sưởi là thay đổi theo năm tháng. Mười năm trước, trên tường có vô số hình chụp một đứa bé trông giống như trái banh hồng tròn quay trên bãi biển, đeo những cái nơ đủ màu. Nhưng nay thì Dudley không còn là một em bé mũm mĩm nữa, và những tấm ảnh giờ đây trưng ra cảnh một cậu bé tóc vàng đang cỡi chiếc xe đạp đầu tiên của mình, đang cỡi đu quay ở hội chợ, đang chơi trò chơi điện tử với cha mình, hoặc đang được mẹ ôm ấp hôn hít… Không có một dấu hiệu nào trong căn phòng cho thấy là còn một đứa bé khác cùng sống trong đó.
            Vậy mà Harry Potter đang có mặt ở đó, vừa thoáng chợp mắt, nhưng chẳng ngủ được bao lâu. Dì Petunia, tức bà Dursley, vừa thức dậy và cất lên âm thanh đầu tiên trong ngày bằng giọng the thé:
            “Dậy! Dậy ngay!”
            Harry giật mình thức giấc. Dì nó lại đập cửa.
            “Dậy!” Giọng bà rít lên. Harry nghe tiếng chân bà đi về phía nhà bếp và rồi tiếng xoong chảo được đặt lên lò. Nó nằm ngửa ra, nhớ lại giấc mơ đêm qua. Thật là một giấc mơ đẹp. Trong giấc mơ ấy, nó thấy một chiếc xe gắn máy biết bay. Nó có một cảm giác ngồ ngộ, rằng hình như trước đây nó từng mơ giấc mơ đó rồi.
            Dì nó lại đứng ngoài cửa gọi:
            “Mày dậy chưa hả?”
            “Sắp rồi ạ.”
            “Mau, ra đây, tao cần mày trông chừng món thịt muối. Mày liệu hồn nếu để nó cháy. Tao muốn mọi thứ đều phải hoàn hảo vào sinh nhật của Dudley.”
            Harry ngáp. Dì nó xô cửa vô:
            “Mày nói gì hả?”
            “Đâu có… Đâu có nói gì đâu…”
            Sinh nhật của Dudley. Làm sao mà nó có thể quên được? Harry thong thả ra khỏi giường, bắt đầu kiếm mấy chiếc vớ. Nó tìm được một đôi dưới gầm giường. Sau khi phủi bụi và mạng nhện, nó mang vớ vô. Harry thân quen với mấy con nhện lắm, bởi vì cái phòng xép dưới gầm cầu thang có rất nhiều nhện, và đó chính là buồng ngủ của nó.
            Mặc quần áo xong, Harry đi qua hành lang xuống bếp. Cái bàn đầy ắp quà sinh nhật của Dudley. Có vẻ như Dudley đã có được cái máy tính mới mà nó đòi, một cái ti vi nữa, và một chiếc xe đạp đua. Vì sao Dudley lại tự nhiên lại đòi một cái xe đạp đua thì quả là một bí mật đối với Harry, bởi vì Dudley mập ú và ghét thể thao hết chỗ nói, ngoại trừ môn thể thao ngắt véo người khác. Đối tượng ngắt véo mà Dudley thích nhất là Harry, nhưng ít khi nào nó tóm được Harry. Trông Harry chẳng có vẻ nhanh nhẹn lắm, nhưng khi bị Dudley săn đuổi thì nó tẩu thoát nhanh lạ lùng.
            Có lẽ do sống trong phòng xép tối tăm dưới gầm cầu thang mà Harry hồi nào giờ cứ ốm nhom nhỏ thó hơn tuổi thật của mình. Đã vậy trông nó còn ốm và nhỏ hơn thực tế nữa vì nó luôn phải mặc quần áo cũ của Dudley, mà Dudley thì lớn xác hơn nó gấp bốn lần. Harry có một khuôn mặt gầy, tay chân loẻo khoẻo, tóc đen, mắt xanh biếc sáng long lanh. Nó đeo một cặp kiếng cận đầy băng keo vì bị gãy gọng sút càng nhiều lần do Dudley khoái đấm vào giữa mũi Harry. Cái duy nhất mà Harry hài lòng về người ngợm của mình là cái thẹo giữa trái có hình một tia chớp. Nó mang vết thẹo đó từ lâu lắm rồi, từ hồi nó không thể nhớ được nữa. Nó chỉ nhớ là lần đầu tiên nó hỏi dì Petunia làm sao nó có vết thẹo đó thì dì nói:
            “Trong vụ đụng xe làm cho ba má mày chết. Không được hỏi nữa, nghe không?”
            Không được hỏi – Đó là nguyên tắc thứ nhất để sống yên thân trong gia đình Dursley.
            Dượng Vernon, tức ông Dursley, bước vào nhà bếp khi Harry đang lật mấy miếng thịt muối. Dượng nạt nó một câu coi như lời chào buổi sáng:
            “Chải tóc, mày!”
            Khoảng một tuần một lần, dượng Vernon lại ngước mắt khỏi tờ báo dượng đang đọc để quát rằng Harry cần phải cắt tóc. Hẳn là số lần cắt tóc của bọn con trai cả lớp cộng lại cũng không nhiều bằng của Harry, nhưng điều đó cũng chẳng làm cho cái đầu nó khác đi được mấy, tóc nó cứ tỉnh bở mọc lên như cũ, khắp đầu.
            Khi Harry chiên tới trứng thì Dudley xuất hiện cùng mẹ ở cửa nhà bếp. Cậu quí tử trông giống y chang cha nó: mặt to hồng hào, cổ cao không tớ một ngấn, mắt nhỏ màu xanh lơ mọng nước, tóc vàng dày được chải mướt trên cái đầu lắm mỡ. Dì Petunia thường nói Dudley trông như một em bé thiên thần, còn Harry thì thường nói Dudley trông giống như con heo trong chuồng heo.
            Harry đặt dĩa trừng và thịt muối lên bàn, cái bàn hầu như chẳng còn chỗ nào trống nữa vì chất đầy quà sinh nhật của Dudley. Nó đang đếm các món quà. Mặt nó xịu xuống. Rồi nó nhìn ba má nó phụng phịu:
            “Có ba mươi sáu hà. Ít hơn năm ngoái hai món quà.”
            “Cưng ơi. Con đếm sót quà của cô Marge rồi, kìa, nó nằm dưới gói quà to của ba mẹ đó.”
            Dudley đỏ mặt.
            “Ừ, cũng chỉ mới có ba mươi bảy thôi.”
            Từng chứng kiến nhiều lần cơn nhõng nhẽo của Dudley, Harry vội vàng ăn món thịt muối càng nhanh càng tốt để phòng trường hợp Dudley hất tung cái bàn lên.
            Dì Petunia hiển nhiên là cảm nhận được nguy cơ đó, bởi vì dì vội nói:
            “Ba má sẽ mua cho con thêm hai món quà nữa khi đưa con đi chơi bữa nay. Được hôn cưng? Hai món quà nữa nha?”
            Dudley suy nghĩ một lát. Trông nó suy nghĩ thật vất vả. Cuối cùng nó nói chậm rãi:
            “Vậy là con sẽ có ba mươi… ba mươi…”
            “Ba mươi chin, cục cưng của má à.”
            Dudley nặng nề ngồi xuống và chụp lấy món quà gần nhất:
            “Ừ, được rồi đó.”
            Dượng Vernon chắc lưỡi, đưa tay xoa đầu con trai:
            “Còn nhỏ mà biết tính kỹ hén. Thiệt xứng đáng là con của cha, cậu Dursley à.”
            Lúc đó điện thoại reo, dì Petunia đi nghe điện thoại, Harry và dượng Vernon ngồi nhìn Dudley mở quà: xe đạp đua, máy quay phim, máy bay điều khiển từ xa, mười sáu trò chơi điện tử mới, và một đầu máy video. Nó đang lột giấy bao khỏi một cái đồng hồ đeo tay bằng vàng thì dì Petunia trở lại bàn ăn, vẻ mặt giận dữ và lo lắng:
            “Xui quá anh Vernon à. Bà Figg bị gãy giò, bà không nhận giữ nó.”
            Dì hất đầu về phía Harry. Miệng Dudley há hốc kinh hoàng, nhưng tim Harry nhảy cẫng lên. Hằng năm vào dịp sinh nhật của Dudley, ba má nó dắt nó và bạn nó đi chơi cả ngày, nào là tới khu vui chơi giải trí, vô nhà hàng, hay đi coi hát. Vào dịp đó hằng năm, Harry bị gởi ở nhà bà Figg. Harry ghét lắm, vì bà Figg là một mụ già điên khó tính sống cách đó hai dãy phố. Ở nhà bà toàn là mùi bắp cải, và bà Figg cứ bắt Harry coi hình mấy con mèo bà nuôi.
            “Bây giờ làm sao đây?”
            Dì Petunia vừa nói vừa nhìn Harry tức tối như thể nó âm mưu bày đặt vụ này. Harry biết là mình nên tội nghiệp cho bà Figg bị gãy chân, nhưng khi nghĩ đến chuyện khỏi phải gặp lại mấy con mèo của bà thì nó không dễ gì kiềm nén được niềm vui khấp khởi.
            Dượng Vernon đề nghị:
            “Chúng ta có thể gọi điện nhờ cô Marge.”
            “Anh đừng điên. Cổ chúa ghét thằng bé.”
            Mặc dù Harry vẫn ngồi trước mặt họ nhưng gia đình Dursley cứ nói về nó như nó không hề hiện diện, hoặc như thể nó là một cái thứ gì không thể nghe hiểu được họ, một thứ ốc sên chẳng hạn.
            “Thế còn cô bạn của em, cô… Yvonne gì đó?”
            “Đi nghỉ ở Majorca rồi.”
            Harry nhen nhóm chút hi vọng:
            “Hay dì dượng cứ để mặc con ở nhà…”
            (Như vậy nó có thể xem chương trình truyền hình nó thích để thay đổi khẩu vị, và biết đâu nó có thể vọc cái máy tính của Dudley). Nhưng dì Petunia trợn mắt nhìn nó, như thể dì vừa nuốt một trái chanh và mắc nghẹn:
            “Để cho cái nhà này bị mày phá tanh banh hả?”
            “Con không làm nổ cái nhà đâu.”
            Harry nói, nhưng chẳng ai thèm nghe. Dì Petunia chậm rãi nói:
            “Hay là cứ dắt nó đi sở thú với mình, nhưng để nó ngồi trong xe?”
            Dượng Vernon phản đối ngay:
            “Cái xe mới toanh, ai dám để nó ngồi một mình trong đó?”
            Dudley bắt đầu khóc to. Thật ta thì nó giả bộ khóc thôi (lần nó khóc thật gần nhất cách đây cũng mấy năm rồi), nhưng nó biết rằng nếu nó nhăn mặt mếu máo thì mẹ nó sẽ cho nó bất cứ cái gì nó muốn. Bà vòng tay ôm nó vỗ về:
            “Đừng khóc, Dudley cục cưng của má. Má không để cho nó làm hỏng ngày vui của con đâu.”
            Dudley giả đò thổn thức và gào lên:
            “Con… không… cho… nó… đi chung.”
            Qua khoảng trống giữa hai cánh tay của mẹ, Dudley nhe răng cười nhạo Harry. Bỗng lúc đó chuông cửa reo. Dì Petunia kêu lên:
            “Ối, trời ơi, khách khứa đến rồi đó.”
            Chỉ một lát sau, thằng bạn thân nhất của Dudley là Piers Polkiss bước vào cùng với mẹ nó. Piers là một thằng nhỏ khẳng khiu với khuôn mặt y như chuột. Nó thường là đứa giữ chặt tay Harry cho Dudley đấm. Dudley ngừng trò khóc giả đò ngay.
            Nửa giờ sau, Harry không thể tin được vận may lại đến với mình như thế: nó đang được ngồi trên xe hơi chung với gia đình Dursley trên đường đến sở thú lần đấu tiên trong đời. Dì và dượng Dursley đã không thể nghĩ ra cách nào khác để giải quyết nó, nhưng trước khi đi, dượng Vernon kéo nó ra, cúi sát cái mặt hồng hào to tướng của ông vào mặt nó mà dặn dò:
            “Tao báo cho mày biết trước: Mày mà giở bất cứ cái trò quỉ quái nào ra, bất cứ trò gì, mày cũng sẽ bị nhốt vô hốc tủ từ đây cho đến Noel, nhớ chưa?”
            Harry hứa:
            “Con sẽ không làm điều gì cả, thiệt mà…”
            Nhưng dượng Vernon không tin. Từ hồi nào tới giờ chưa từng có ai tin Harry cả.
            Đó là bởi vì luôn luôn có những chuyện lạ lùng xảy ra quanh nó, và hoàn toàn vô ích để làm cho ông bà Dursley tin rằng những chuyện này không phải do Harry bày ra.
            Thí dụ một lần, dì Petunia lấy cái kéo nhà bếp cắt trụi lủi mớ tóc trên đầu Harry, khiến cho cái đầu nó trọc lóc. Dì chỉ để chừa lại một chỏm trên trán, theo dì nói, là “để nó che cái theo kinh khủng kia đi”. Chẳng là dì đã cáu tiết khi thấy Harry đi tiệm hớt tóc về mà đầu tóc vẫn cứ bờm xờm như không hề được cắt tỉa.
            Hôm đó Dudley được một bữa cười đến phát nấc cục. Còn Harry thì thao thức suốt đêm, đau khổ tưởng tượng đến ngày hôm sau phải vào trường. Ở trường, với mớ quần áo rộng lùng thùng của Dudley mà nó phải mặc và chiếc kính dán đầy băng keo, nó vốn đã là một trò tiêu khiển cho những đứa khác. Vậy mà, sáng hôm sau thức dậy, Harry thấy tóc nó vẫn y như trước khi dì Petunia cạo láng. Vì “tội” này, Harry đã bị nhốt vô gầm cầu thang suốt một tuần, mặc dù nó đã cố gắng phân bua rằng nó không thể giải thích được làm sao mà tóc nó lại mọc lên nhanh như vậy.
            Rồi một lần khác, dì Petunia bắt Harry mặc chiếc áo len của Dudley đã bỏ đi. Cái áo đó màu nâu với những túm len màu cam trông hết sức khủng khiếp. Harry không thích chút nào, nhưng dì Petunia cứ tròng áo vô đầu nó. Dì càng ra sức co kéo thì chiếc áo càng nhỏ lại, cuối cùng thì cái áo chỉ vừa đủ lớn để mặc cho một con búp bê bằng nắm tay, và dĩ nhiên là không vừa với Harry. Dì Petunia thì cho là tại giặt mà cái áo bị co rút, nhờ vậy lần đó Harry không bị phạt.
            Nhưng đổi lại, nó bị rắc rối to, khi một lần, người ta thấy nó đang ngồi chong ngóc trên mái nhà bếp của trường. Hôm đó, băng của Dudley đang rượt bắt Harry như mọi khi, khi Harry chạy hết nổi và cầm chắc rơi vào tay lũ trẻ, thì nó ngạc nhiên thấy thoắt một cái, mình đang ở trên mái nhà. Bọn trẻ cũng kinh ngạc hết sức. Còn ông bà Dursley thì nhận được thư mắng vốn của cô hiệu trưởng vì Harry đã trèo lên nóc nhà ngồi chơi. Harry cố gắng giải thích với dượng Vernon, bằng cách gào thật to qua lỗ khóa của cái phòng xép dưới gầm cầu thang, rằng lúc đó nó chỉ định nhảy qua cái thùng rác lớn ở trước cửa nhà bếp. Nó đoán là trong khi thực hiện cú nhảy lửng lơ đó, gió đã thổi nó lên trên nóc nhà!
            Nhưng hôm nay thì đừng có chuyện quái dị gì xảy ra nhé. Hôm nay đáng được giữ gìn để còn đi chơi với Dudley và Piers ở một nơi khác – không phải là trường học, không phải là gầm cầu thang, hay căng nhà toàn mùi bắp cải của bà Figg.
            Vừa lái xe, dượng Vernon vừa phàn nàn với dì Petunia. Ông thích phàn nàn về mọi thứ: mấy người ở sở làm, Harry, Hội đồng thành phố, Harry, ngân hàng, và Harry chính là một trong vài đề tài ông thích phàn nàn nhất. Còn sáng nay, đề tài phàn nàn của ông là về xe gắn máy.
            “…gào rú như đồ điên, cái đồ mất dạy!”, ông nói khi một chiếc xe gắn máy vượt qua mặt họ.
            Harry chợt nhớ ra giấc mơ của mình, buột miệng nói:
            “Con có mơ thấy một chiếc xe gắn máy. Nó bay.”
            Dượng Vernon suýt nữa tông vào chiếc xe chạy phía trước. Ông xoay ngoắt mình trên ghế để gào vào mặt Harry, bộ mặt ông lúc đó giống như một củ cải đỉ khổng lồ:
            “XE GẮN MÁY KHÔNG BAY!”
            Dudley và Piers bấm nhau cười hi hí.
            Harry nói:
            “Con biết là nó không bay. Chỉ là chiêm bao mà.”
            Nhưng giá mà nó đừng nói thì hơn. Ở trong gia đình Dursley, mỗi khi nó đặt câu hỏi thì người ta đã thấy ghét rồi; nhưng không ghét bằng khi nó nói về những việc bất bình thường, cho dù nó nói đó là chuyện chiêm bao hay phim hoạt hình đi nữa. Có vẻ như họ sợ Harry sẽ bị nhiễm những ý tưởng kì quái nguy hiểm.
            Hôm ấy là một ngày thứ bảy nắng đẹp và sở thú đầy nhóc những gia đình dắt con cái đi chơi.Ông bà Dursley mua cho Dudley và Piers mỗi đứa một cây kem sô-cô-la to tổ chảng ngay ở cổng, và bởi vì trước khi họ kịp vội vàng kéo Harry đi chỗ khác thì cô bán hàng đã tươi cười hỏi Harry rằng cậu bé muốn ăn kem gì, họ mới đành mua cho nó một cây kem chanh rẻ tiền. Cũng không đến nỗi tệ. Harry vừa nghĩ vừa mút cây kem của mình khi cả bọn đứng xem một con đười ươi đang gãi đầu. Harry thấy con đười ươi đó giống Dudley lắm dù rằng lông nó không vàng hoe.
            Lâu lắm rồi Harry mới có được một buổi sáng đẹp như vậy. Nó cẩn thận đi cách ông Dursley một khoảng để Dudley và Piers không kiếm chuyện nên nó cho đỡ ngứa chân tay. Hai thằng nhỏ đã có vẻ bắt đầu chán mấy con thú. Khi họ ngồi ăn trong nhà hàng của sở thú, Dudley đập bàn đá ghế um xùm vì cái bánh kem của nó không có đủ kem như nó đòi, dượng Vernon bèn mua cho nó một cái khác, và Harry được hưởng sái cái bánh không đủ kem kia.
            Mãi về sau, Harry vẫn còn cảm thấy sao mà chuyện đó đẹp như một giấc mơ.
            Sau bữa ăn trưa, họ đến khu chuồng nuôi các loài bò sát. Bên trong mát lạnh và tăm tối, chỉ có ánh sáng lọt qua cửa sổ dọc theo tường. Đằng sau tấm kính ngăn, đủ loại rắn rít trường quanh những tản đá hay khúc gỗ. Dudley và Piers muốn xem mấy con rắn hổ mang khổng lồ rất độc, và lũ trăn (cũng khổng lồ) có thể quấn chết người. Dudley nhanh chóng kiếm ra chỗ ở của con rắn lớn nhất sở thú. Nó bự đến nỗi có thể quấn hai vòng quanh chiếc xe hơi của ông Dursley và siết cho chiếc xe bẹp dúm bẹp dó như cái thùng rác cũ. Nhưng lúc đó con rắn không tỏ vẻ gì hứng thú làm chuyện đó. Nó đang ngủ.
            Dudley dí mũi sát cửa kính nhìn chằm chằm vào cái cuộn màu nâu bóng láng ấy. Nó nài nỉ cha:
            “Làm cho nó nhúc nhích đi.”
             Ông Dursley vỗ lên tấm kính ngăn, nhưng con vật lì lợm nằm im. Dudley lại òn ỉ:
            “Làm nữa đi ba.”
            Ông Dursley lại vỗ bàn tay hộ pháp lên tấm kính, nhưng con rắn cứ giả điếc, hay là điếc thiệt. Dudley làu bàu bỏ đi:
            “Con này chán ngắt.”
            Harry đi tới đứng vào chỗ Dudley đã bỏ đi, chăm chú nhìn con rắn. Nếu mà con rắn đã chết vì chán ngán thì Harry cũng không lấy làm ngạc nhiên. Nghĩ coi, chẳng có ai bầu bạn ngoại trừ mấy thằng ngốc gõ gõ ngón tay lên tấm kính ngăn để quấy rầy nó suốt ngày. Còn tệ hơn là ở trong cái phòng xép dưới gầm cầu thang, nơi chỉ có dì Petunia tới đập cửa kêu dậy; ít nhất ở đó còn được đi qua nhà bếp hay loanh quanh trong vườn.
            Thình lình con rắn mở mắt ra, hai con mắt như hai hòn bi thủy tinh. Rồi, rất từ tốn, nó ngóc đầu lên, cho đến khi mắt nó ngang tầm với mắt Harry.
            Nó nháy mắt.
            Harry nhìn con rắn chằm chằm. Rồi nó liếc nhanh chung quanh xem có ai đang ngó chừng không. Không có. Harry bèn nhìn lại con rắn và nháy mắt với nó.
            Con rắn hất đầu về phía Dudley và ông Dursley, nhướn mắt nhìn lên trần nhà. Rồi nó ném cho Harry một cái nhìn mang ý nghĩa rõ ràng là:
            “Ta quá nhàm vụ đó rồi.”
            Harry thì thầm qua tấm kính mặc dù nó không chắc con rắn có thể nghe được:
            “Tao biết. Chắc là khó chịu lắm?”
            Con rắn gật mạnh cái đầu. Harry hỏi:
            “Nhân tiện xin hỏi mày ở đâu ra vậy?”
            Con rắn ngoắt cái đuôi chỉ vào tấm bảng cạnh tấm kính. Harry đọc:
            Boa Constrictor, Brazil.
            “Xứ đó có đẹp không?”
            Boa Constrictor lại ngoắc cái đuôi chỉ vào tấm bảng lần nữa và Harry đọc tiếp: Con vật này sinh trưởng trong sở thú.
            “A, tao hiểu rồi. Vậy là mày chưa từng tới Brazil?”
            Con rắc lắc đầu, vừa lúc một tiếng thét kinh hoàng vang lên phía sau Harry làm cho cả nó và con rắn đều giật bắn mình.
            “DUDLEY! ÔNG DURSLEY! LẠI ĐÂY COI CON RẮN NÀY! KHÔNG THỂ NÀO TIN ĐƯỢC CHUYỆN NÓ ĐANG LÀM ĐÂU!”
            Dudley chạy nháo nhào tới. Nó đấm vô sườn của Harry.
            “Mày tránh ra tao coi.”
            Bị bất ngờ, Harry té lăn xuống sàn bê tông. Điều xảy ra tiếp theo nhanh đến nỗi không ai nhìn thấy là nó đã xảy ra như thế nào: Tích tắc thứ nhất, Dudley và Piers dí mắt lên tấm kính, tích tắc thứ hai, tụi nó bật ngửa ra sau với tiếng rú hãi hùng.
            Harry lồm cồm ngồi dậy sửng sốt. Tấm kính ngăn chuồng con Boa Constrictor đã biến mất. Con rắn khổng lồ đang lẹ làng trườn trên sàn. Mọi người trong khu chuồng bò sát vừa la hét vừa chạy thoát thân ra cửa. Khi con rắn trườn ngang qua, Harry nghe như có một giọng trầm trầm xúc động vang lên:
            “Ta về Brazil đây… cảm ơn lắm lắm, bạn ta.”
            Người trông coi chuồng bò sát chết điếng đi, cứ lắp bắp mãi:
            “Nhưng… tấm kính ngăn… tấm kính ngăn đâu rồi?”
            Ông giám đốc sở thú đích thân pha một tách trà đậm có đường cho bà Dursley, rối rít xin lỗi không thôi. Dudley và Piers gần như á khẩu. Theo như Harry chứng kiến thì con rắn không làm gì ai ngoài chuyện táp đùa không khí lúc trườn ngang qua chân bọn chúng. Nhưng một khi đã an toàn ngồi trên xe của ông Dursley thì Dudley bắt đầu ba hoa chuyện con rắn đã suýt nữa táp đứt cẳng giò của nó, còn Piers thì làm như thể con rắn chỉ thiếu chút nữa là đã siết nó trẹo xương sống. Nhưng điều kinh khủng nhất, ít nhất là đối với Harry, là khi Piers hoàn hồn lại và nói:
            “Ê, Harry, lúc đó mày đang nói chuyện với nó, phải không?”
            Ông Dursley đợi cho đến khi Piers an toàn rời khỏi nhà ông rồi mới quay sang Harry. Ông giận đến nổi không thốt nên lời, chỉ hổn hển nói được mấy tiếng:
            “Tới – gầm cầu thang – ở đó – nhịn ăn.”
            Rồi ông ngã vật xuống chiếc ghế bành, bà Dursley phải lật đật chạy đi rót cho ông một ly rượu vang lớn.
            Harry nằm dài trong phòng xép dưới gầm cầu thang lâu thật lâu sau đó, thầm ước ao mình có một cái đồng hồ. Nó không biết bây giờ là mấy giờ và cũng không chắc là gia đình Dursley đi ngủ hết chưa. Họ mà chưa ngủ thì nó không dám liều mạng mò vô bếp kiếm cái gì ăn.
            Nó đã sống ở nhà Dursley gần mười năm, mười năm khốn khổ, từ khi còn là một đứa trẻ sơ sinh và ba má nó chết vì một tai nạn xe cộ, theo như nó được biết. Nó không thể nhớ chuyện gì đã xảy ra với nó, ở trong chiếc xe hơi bị nạn khiến ba má nó chết. Đôi khi, vào những lúc bị phạt nhốt trong gầm cầu thang nhiều giờ liền, nó vắt trí nhớ để nhớ lại và loáng thoáng thấy một hình ảnh lạ: Một lằn chớp xanh lè lóa mắt và một cơn đau buốt ngay giữa trán. Nó đoàn là do vụ đụng xe gây ra, nhưng nó không tưởng tượng nổi lằn chớp xanh đó xuất phát từ đâu. Nó cũng không thể nhớ gì về ba má nó. Dì dượng Dursley không bao giờ nói cho nó biết chút gì về họ cả. Nó thì dĩ nhiên là bị cấm hỏi. Trong nhà Dursley không có tấm hình nào của ba má Harry.
            Hồi Harry còn nhỏ hơn nữa, nó từng mơ đi mơ lại giấc mơ được một người bà con nào khác đến nhận, đem nó đi khỏi nhà Dursley. Nhưng chuyện đó không bào giờ xảy ra: Dursley là gia đình duy nhất cho nó dung thân.
            Dù vậy, đôi khi nó cũng nghĩ (hay hy vọng) rằng hình như có những người lạ mặt trên đường phố biết nó. Một ông già nhỏ thó đội cái nón chóp màu tím có lần cuối chào nó khi nó theo bà Dursley và Dudley đi mua sắm. Bà Dursley giận dữ hỏi nó có quen với ông già không, rồi hấp tấp kéo bọn trẻ ra khỏi tiệm mà không kịp mua sắm gì cả. Lại có một bà già trông rất hoang dại, mặc quần áo toàn màu xanh lá cây, vui vẻ vẫy chào nó trên xe buýt. Rồi một ông hói đầu mặc áo khoác tím dài thoòng đến bắt tay nó trên đường phố vào hôm kia, xong bước đi không nói một lời. Điều kì lạ nhất ở tất cả những người này là ngay khi Harry muốn đến gần họ, thì họ dường như tan biến đi trong chớp mắt!

            Ở trường, Harry không có bạn bè. Mọi người đều biết băng của Dudley rất ghét cái thằng Harry Potter bận đồ khín luộm thà luộm thuộm và đeo cặp mắt kính gãy gọng bể tròng. Họ không muốn làm mích lòng băng Dudley.